Văn bản công chứng là văn bản được lập trước mặt công chứng viên, ghi nhận các hành vi pháp lý theo tuyên bố của các bên. Đây là việc hành vi pháp lý được ghi nhận bởi công chứng viên, tức người có thẩm quyền thực hiện công việc này.
Lập văn bản công chứng là một trong những công việc phổ biến nhất của hoạt động công chứng. Việc này được quy định tại các điều từ § 46 đến 55 của Luật Công chứng. Căn cứ vào tuyên bố của các bên, công chứng viên lập văn bản công chứng về hợp đồng mua bán, hợp đồng tặng cho, di chúc, hợp đồng xác lập hoặc chấm dứt quyền địa dịch, sở hữu chung theo phần và các hành vi pháp lý khác. Thông thường, cùng một công chứng viên lập toàn bộ văn bản đó; tuy nhiên, một công chứng viên khác có trụ sở tại Cộng hòa Slovakia cũng có thể tiếp tục lập văn bản.
Hợp đồng mua bán và hợp đồng tặng cho
Hợp đồng xác lập hoặc chấm dứt quyền địa dịch
Di chúc
Các hành vi pháp lý khác
Văn bản công chứng phải có các nội dung sau:
- địa điểm, ngày, tháng và năm lập văn bản công chứng,
- họ, tên và địa chỉ trụ sở của công chứng viên,
- họ, tên, mã số định danh cá nhân, ngày sinh và địa chỉ thường trú của các bên tham gia, người đại diện, người làm chứng, người được tín nhiệm và phiên dịch viên,
- tuyên bố của các bên tham gia rằng họ có năng lực thực hiện hành vi pháp lý,
- thông tin về cách thức xác minh danh tính của các bên tham gia và người làm chứng, đặc biệt là loại và số giấy tờ tùy thân còn hiệu lực của bên tham gia,
- nếu bên tham gia là pháp nhân, thông tin về cách thức chứng minh sự tồn tại của pháp nhân đó và thẩm quyền hành động nhân danh pháp nhân,
- nội dung của hành vi pháp lý,
- thông tin xác nhận rằng các bên tham gia đã phê duyệt văn bản sau khi đọc,
- chữ ký của các bên tham gia hoặc người đại diện của họ và, nếu có tham gia, chữ ký của người làm chứng, người được tín nhiệm và phiên dịch viên; nếu người ký văn bản công chứng thay mặt pháp nhân tham gia là cá nhân có thẩm quyền hành động nhân danh pháp nhân đó, người này chỉ cần ký tên mình,
- dấu công chứng chính thức và chữ ký của công chứng viên.
Tất cả các bên tham gia, người làm chứng, người được tín nhiệm hoặc phiên dịch viên tham gia thủ tục đều phải chứng minh danh tính bằng giấy tờ tùy thân chính thức còn hiệu lực, hoặc có thể nhờ thêm hai người làm chứng xác nhận danh tính. Nếu công chứng viên trực tiếp biết những người làm chứng, công chứng viên có thể bỏ qua bước này khi lập văn bản. Trường hợp công chứng viên không thể xác minh danh tính của những người có mặt, công chứng viên có thể từ chối lập văn bản. Người chưa thành niên, người không có khả năng làm chứng do tình trạng thể chất hoặc tinh thần, cũng như người không biết hoặc không thể đọc hay viết, không được làm chứng trong thủ tục.
Theo quy định tại § 3 khoản 4 của Luật Công chứng, văn bản công chứng là văn bản công. Sau khi được lập, văn bản được lưu giữ tại văn phòng công chứng viên. Trong một số trường hợp, văn bản công chứng có thể là căn cứ thi hành, làm cơ sở cho việc thi hành quyết định của tòa án và việc cưỡng chế thi hành.